#30. WILL YOU WEAR SUNSCREEN OR HAVE A SUNKISS ? HIỂU BIẾT VỀ KEM CHỐNG NẮNG

Chào các bạn, một mùa hè nắng lại sắp tới, những ngày qua hàng loạt hãng mỹ phẩm Hàn Quốc đều đồng loạt giảm giá các sản phẩm chống nắng của họ. Phải nói là nhà sản xuất thật tâm lý.
Thế nên mình có cơ duyên để viết vài điều về kem chống nắng. Sau đây là tất cả hiểu biết của mình về kem chống nắng.

1. KHẢ NĂNG chống tia UVB (SPF) + chống tia UVA (PA)

Đây là 2 yếu tố mà bất kì loại kem chống nắng nào cũng in trên bao bì sản phẩm.
Đó là chỉ số:

UVB (SPF)

SPF: Khả năng chống lại lượng UVB trong bức xạ mặt trời. Đồng thời,
SPF biểu thị thời gian tối đa mà kem chống nắng có thể bảo vệ da dưới tia UVB trước khi da bắt nắng***
SPF có hiệu lực trong khoảng 15 đến 100.
Thời gian chống nắng được tính bằng cách lấy chỉ số chống nắng nhân 10 phút. ***
Khả năng chống nắng được ước lượng như biểu đồ:
Spf15: chống 93% UVB
Spf30: chống 96% UVB
Spf60: chống 97% UVB

chỉ số SPF chỉ khả năng chống tia UVB 
Quần áo cũng có chỉ số chống nắng SPF. Nhắc lại lần nữa, SPF cũng nói lên thời gian bảo vệ da tối đa trước khi da bắt đầu cảm thấy bị cháy/bắt nắng (nóng rát..) 
Do đó khi mới mặc quần áo xong và đứng ngoài trời nắng 1 phút, da bạn chưa có cảm giác cháy nắng, sau 10 phút da bắt đầu có cảm giác cháy nắng. Tức là hết công hiệu chống nắng của quần áo. (cần mặc thêm một lớp áo mới, cũng giống như, cần bôi thêm 1 lớp kem chống nắng mới, vậy quần áo lúc này cũng giống như Sunscreen: màn chống nắng hoá học, chắn tia bức xạ và chuyển thành nhiệt năng) 

Độ chống nắng của một số loại vải:
Vải Nylon: spf2
Vải Cotton trắng: spf4 – vải cotton đen: spf 18
Vải Jean trắng: spf12 – vải jean đen: spf 166 

Màu đen là màu hấp thụ tất cả các tia nhưng không cho tia nào xuyên qua được.
Màu trắng là màu phản xạ 7 tia màu, do đó màu trắng vẫn cho phép những tia không màu xuyên qua.
Vậy khi chọn áo khoác nắng nên chọn màu tối và loại vải có khả năng chống nắng tốt.
  

UVA (PA)

PA: khả năng chống lại tia UVA cao hay thấp.
PA là chỉ số ngược, của chỉ số PPD do các nhà khoa học Nhật Bản đưa ra. Vì ở Mỹ và Đức, hội khoa học và sức khoẻ chỉ cho thực hiện thử nghiệm PPD (Persistent Pigment Darkening ). 

Theo đó, nếu: 

PPD trong khoảng 2 đến 4 tiếng thì tương ứng với PA+ (tạm)
PPD trong khoảng 4 đến 8 tiếng thì tương ứng với PA++ (tốt)
PPD trong khoảng 8 đến 16 tiếng thì tương ứng với PA +++ (rất tốt)
PPD trong khoảng > 16 tiếng thì tương ứng với  PA++++ (cực tốt) 

Ví dụ:
– SPF35: thời gian chống tia UVB tối đa  = 35 x 10 phút = 350 phút = 5 tiếng 50 phút.
– PA++ : khả năng chống nắng tia UVA tốt

FACT – thực tế 

1. Trong 1 sản phẩm kem chống nắng, luôn luôn gồm nhiều hơn 2 loại chất chống nắng được kết hợp để làm tăng khả năng bền vững và hiệu quả.
2. Chỉ số chống nắng SPF biểu thị khả năng chống nắng của tất cả các chất chống nắng trong sản phẩm khi kết hợp với nhau.
3. Để có số SPF chính xác, các cách kết hợp các chất chống nắng với nhau được đưa ra với tỉ lệ kết hợp chính xác, do đó muốn đạt được chỉ số chống nắng trên bao bì sản phẩm, người sử dụng phải dùng 1 lượng kem chống nắng hợp lý. Nếu không đủ lượng thì sản phẩm chống nắng có chỉ số SPF30 sẽ vô tình chỉ có tác dụng như SPF10.
4. Lượng kem chống nắng hợp lý được FDA công bố như sau:
– 2mg kem chống nắng / 1 cm2 da mặt cho 1 lần bôi. Hoặc
– 0.75mg kem chống nắng / 1 cm2 da mặt cho 2 lần bôi liên tiếp.

như vậy tổng cộng 1.5mg/1cm2 nếu bôi 2 lượt liên tiếp – nhiều người thường chia nhỏ kem chống ra bôi để nhanh thấm và nhanh ráo kem)
5. Các chất chống nắng và các chất khác đều bị ảnh hưởng bởi Nhiệt năng (sức nóng) và Ánh sáng.
Do đó chất lượng chống nắng sẽ giảm dần trong điều kiện không lý tưởng như: Đổ mồ hôi, da tiết dầu, hoạt động liên tục dưới trời nắng…
Nên đối với kem chống nắng hoá học nên được bôi lại mỗi 2 đến 3 giờ hoạt động.
Đối với kem chống nắng vật ký – Nếu có thể đảm bảo kem chống nắng không bị trôi (điều kiện điều hoà, mặt ráo) thì căn theo chỉ số chống nắng để tính thời gian bôi lại.  

6. Lý do rất ngẫu hứng để các loại kem chống nắng chỉ số cao ra đời, là lo sợ khách hàng không bôi đủ lượng kem chống nắng để đạt hiệu quả chống nắng in trên bao bì. Vì thế, nếu bạn đang dùng kem chống nắng có chỉ số khá cao, đừng lo là phải dùng đủ lượng kem chống nắng mỗi ngày, bạn có thể dùng ít hơn khối lượng cần. Ví du, lọ kem chống nắng của bạn là Spf60, nhưng bạn không cần mức độ chống nắng đến 60, vậy thì thay vì phải bôi đủ 2mg/1cm2 da mặt bạn có thể giảm nó xuống 1.5mg/1cm2. Như vậy lượng kem chống nắng lúc này có thể bảo vệ bạn trong khoảng Spf 30- spf 50 nhé. 

2. Tia UVA ÁC NHÂN GÂY LÃO HOÁ DA: có thể xuyên qua các tầng lớp da vào hạ bì gây ung thư da. 

Tia UVA chiếm 95% bức xạ mặt trời lọt qua tầng ozon. Chỉ cần trời sáng là có sự hiện diện của tia UVA
Tia UVA Không bị ngăn cản bởi mây + cửa kính 
Tia UVA không kích ứng nhân tố Melanin nhưng làm cho Melanin trở nên tối màu hơn (nám gốc sâu) 

3. UVB ÁC NHÂN GÂY XẠM DA: gây ảnh hưởng ngoại bì.

Tia UVB chiếm 5% còn lại của bức xạ mặt trời lọt được qua tầng ôzon.
Tia UVB bị ngăn cản bởi mây và cửa kính ! 
Tia UVB là “đầu bếp” chuyên nướng thịt, làm cho da “đỏ” “nóng” “đen” chuyên kêu gọi Melanin và đồng bọn giúp làm da “nâu” hơn “tanning” hơn.

4. SUNSCREEN —- SUNBLOCK: CHỐNG NẮNG VẬT LÝ     HAY HOÁ HỌC ? 

Kenneth A. Arndt, MD, Giáo sư Dermatology (Da liễu) trường Harvard Medical School, Boston, viết trong cuốn sách mới nhất “Bottom Line Personal” rằng: Sunscreen và Sunblock không giống nhau. 

Để hiểu, chúng ta nên phân tích từ Sunscreen và Sunblock trước. 
Sun-screen: Màn chắn mặt trời. 
Sun-block: Khối chắn mặt trời. 
Vì thế nên khi nhắc đến Sunscreen, tức là nhắc đến kem chống nắng hoá học, còn nhắc đến sunblock tức là nói đến kem chống nắng vật lý vì khả năng phản xạ lại mặt trời của kẽm và titan oxit. 
Nguồn thông tin từ clip cuả bác sĩ Dr. David B. Reath, MD.Confused About What SPF to Use? The Doctor Shares These Sunscreen Tips
Hình ảnh thể hiện sự so sánh khi dùng kem chống nắng Vật lý (nửa trái khuôn mặt) và Hoá học (nửa phải) trong cùng một thời gian và điều kiện. 

Giải thích: 

Mảng trắng bên trái thể hiện sự hoạt động của Kẽm oxit (Zinc oxide) đang phản chiếu lại bức xạ mặt trời (chống nắng). Màu trắng càng sáng chứng tỏ khả năng hoạt động đang ở mức cao nhất.
Mảng đen nửa bên phải thể hiện sự hoạt động hấp tụ bức xạ của Avobenxon (chất chống nắng hoá học). Màu đen càng tối, chứng tỏ chất chống nắng đang hoạt động mạnh, màu đen trở nên xám chứng tỏ chất chống nắng đang mất dần khả năng lọc bức xạ. 
http://www.synergieskin.com/category/terris-blogs/

Phân tích: 

Hình ảnh trên là câu trả lời cho việc: Có cần bôi lại kem chống nắng hay không ? 
Trả lời CÓ đối với kem chống nắng hoá học 
Trả lời KHÔNG đối với kem chống nắng vật lý. ( Nếu như gặp nước hoặc đổ mồ hôi nhiều thì vẫn nên bôi lại vì lượng kim loại có thể bị trôi đi nhiều) 
Ngày nay việc kết hợp chất chống nắng Vật lý và chất chống nắng Hoá học đã trở nên phổ biến để có thể thừa hưởng những lợi thế của nhau.

Do đó 2 từ Sunblock và Sunscreen đang dần hoà hợp với nhau, trở nên không còn nhiều khác biệt. Và tuỳ vào ý thích của nhà sản xuất họ có thể để kem chống nắng HOÁ LÝ mang tên Sunblock hay Sunscreen 

Ví dụ: đây đều là 2 loại kem chống nắng lai: Lý Hoá, nhưng một bên có tên sunscreen còn bên kia lại tên sunblock.
Innisfree Eco safty perfect sunblock SPF 50+/PA +++
HANYUL White Chrysanthemum Sun Screen SPF 50+/PA +++


Hoặc với trường hợp quá khó xử, nhà sản xuât có thể nghĩ ngay cái tên: Safeblock như
Missha all-around safe block sun milk 

5. Câu chuyện FDA  

(theo c&en số 93 mục 20 trang 10-15)
Cho tới nay, Mỹ vẫn chưa công nhận 8 chất chống nắng mới đã được sử dụng rộng rãi tại Châu Âu và Châu Á.
The FDA of American cho rằng, chưa đủ nghiên cứu để chứng minh những chất này an toàn tuyệt đối cho người sử dụng. (theo báo cáo khoa học năm 2000)
“Thống kê từ ngành công nghiệp Hoá chất và mỹ phẩm công bố rằng người tiêu dùng đang từ chối  khả năng bảo vệ cuộc sống”

Nhưng trong số 16 chất chống nắng được FDA thông qua tại Mỹ, chỉ có 8 chất chống nắng được sử dụng thường xuyên, trong đó chỉ có 2 chất có khả năng chống lại được tia UVA , 8 chất đã không còn được sử dụng, vì những nhược điểm kích ứng da của nó (ngứa, đỏ, lâu thấm..)

Bên cạnh đó, Châu Âu cũng công bố 27 chất được sử dụng làm thành phần chống nắng với nông độ hợp phép trong các sản phẩm mỹ phẩm tại đây.

Một điều thú vị khác, tại châu Âu “chất chống nắng” không phải là chất dược học trong khi đó ở mỹ, chất chống nắng được liệt kê vào danh sách các hoá chất dược học, và cần phải ghi nồng độ active trên bao bì sản phẩm.

Mới đây nhất, vào tháng 11 năm 2014 tổng thống Barack Obama đã phê duyệt yêu cầu FDA xem xét 8 chất chống nắng đang được lưu hành tại châu âu để đưa ra mức độ sử dụng tại Mỹ.

Nhưng từ đó đến nay FDA đang còn đình trệ rất nhiều phản hồi, và những phản hồi hơi cũ là cách đây khoảng 14 năm.

Đã có 1 tổ chức ra đời (Public Access to SunScreens ) nhằm tạo sức ép để FDA có thể trả lời cho những chất chống nắng mới. Vì có thể nói, Mỹ đang cạn kiệt chất chống nắng trong khi hiện nay, bức xạ mặt trời tại Mỹ là rất lớn, nó ảnh hưởng tới Phụ nữ mang thai và em bé nhiều hơn.

“FDA đang quá sa lầy vào chất chống nắng, vì họ cứ coi nó là chất dược học (thuốc)”
“Nếu như chúng ta không thay đổi suy nghĩ cơ bản của FDA tôi e rằng Mỹ sẽ không bao giờ có thêm chất chống nắng mới” 

Từ người đứng đầu FDA, bà Theresa M. Michele phát biểu:

“Chúng tôi cần nhiều số liệu hơn để quyết định nếu như những chất này, thực sự, một cách toàn diện nhất được nhận định là an toàn và hiệu quả để sử dụng trong kem chống nắng không cần kê toa (OTC) “

OTC: over-the-counter: thuốc không cần bác sĩ kê đơn >< ETC: thuốc cần bác sĩ kê đơn.

Để “trốn tránh” hành động, FDA Mỹ đã “sinh” ra một tổ chức viết tắt là TEAs với mục đích trả lời cho các chất chống nắng được yêu cầu phê duyệt. Thế nhưng hội này liên tiếp làm các công ty đệ đơn phê duyệt phải thất vọng vì sự thi hành quá sức chậm trễ.

Để bắt lỗi FDA, rất nhiều dẫn chứng đưa ra nhằm lật trần bộ mặt “lười biếng cập nhật” của FDA.
Ví dụ từ Jonhcock – giám đốc công ty hoá chất symrise- Châu âu đã loại bỏ aminobenzoic ra khỏi danh sách hoá chất lưu hành trong khi hoá chất này vẫn đang còn hiệu lực trong phê duyệt của FDA tại Mỹ.

Aminobenzoic acid gây dị ứng và kích ứng da khi sử dụng do đó nó được loại bỏ và không cần nghiên cứu thêm vì chi phí đắt đỏ.

Một ví dụ khác đối với chất Avobenzon – chất chống nắng đã được FDA chấp nhận- chất này được nhiều nghiên cứu công nhận là chất chống nắng hoá học được sử dụng rông rãi nhất tại mỹ có khả năng chống lại tia UVA rất tốt, công ty hoá chất DSM đã đệ đơn yêu cầu FDA tăng nồng độ sử dụng Avobenzon lên 3% trong kem chống nắng từ nhiều năm trước nhưng đến nay, câu trả lời vẫn đang bị FDA bỏ ngõ.

Công ty này cũng yêu cầu FDA bỏ các hạn chế trong công thức kết hợp với Avobenzon để sự kết hợp mới giúp Avobenzon bền vững hơn khi sử dụng trên da. Nhưng câu trả cũng đang được FDA ngâm dấm nhiều năm nay.

Chúng ta “lên voi xuống chó” nhờ làm mỹ phẩm trong suốt cuộc đời. Nhưng với những giới hạn về chất chống nắng từ phía FDA, sự sáng tạo phải bỏ cuộc và chết dần trong bài ca của chính mình. 

Lời nhận xét đầy bi thương từ nhà nghiên cứu Alpha Research’s Shaath.

Nếu FDA chấp thuận 1 loại chất chống nắng mới và có bất kì điều gì sai, họ sẽ bị đổ lỗi cho sự thất bại trong việc dự đoán các rủi ro. Nhưng nếu họ nói “KHÔNG” thì họ sẽ chả bao giờ phải xin lỗi ai cả.  

Theo thống kê thời đại, ngành mỹ phẩm chống nắng kiếm 1.2 tỉ đô mỗi năm tại Mỹ, trong khi tại châu âu là 2.2 tỉ đô.

Mỹ phẩm là ngành công nghiệp cần nhiều sáng tạo và đổi mới.

Bảng tóm lược các chất chống nắng phổ biến, trong đó Kẽm oxit và Avobenzon là 2 chất được FDA chấp thuận và có khả năng chống tia UVA. Vì vậy khi mua kem chống nắng tại mỹ, chúng ta sẽ thường xuyên thấy 2 chất này. 
Tinosorb S/M – Uvinul A/T –  Meroryl SX/XL : là các chất chống nắng thế hệ mới từ năm 2000 trở về sau 

Thành phần:
Chống UVA
Chống UVB
Bền bỉ
FDA
Zinc oxide
þ
þ
þ
þ
Tinosorb S
þ
þ
þ
Tinosorb M
þ
þ
þ
Uvinul A Plus
þ
þ
Titanium dioxide
Hạn chế
þ
þ
þ
Helioplex
Hạn chế
þ
þ
þ
Octocrylene
Hạn chế
þ
þ
þ
Oxybenzone
Hạn chế
þ
þ
þ
Ensulizole
Hạn chế
þ
þ
þ
Sulisobenzone
Hạn chế
þ
þ
þ
Dioxybenzone
Hạn chế
þ
þ
Avobenzone
þ
þ
Mexoryl SX
þ
þ
þ
Mexoryl XL
Hạn chế
þ
Disodium Phenyl Dibenzimidazole Tetrasulfonate
Hạn chế
þ
Uvasorb HEB
Hạn chế
þ
Meradimate
Hạn chế
þ
4-Methylbenzylidene Camphor
þ
þ
Uvinul T 150
þ
þ
Parsol SLX
þ
þ
Amiloxate
þ
Octinoxate
þ
þ
Octisalate
Yếu
þ
Homosalate
þ
þ
Padimate O
þ
þ
Cinoxate
þ
þ

Liên kết tham khảo:
http://outdoors.stackexchange.com/questions/1226/whats-the-upf-of-a-t-shirt-or-jeans
http://www.dermatest.com.au/Scientific/What%20SPF.pdf
http://www.synergieskin.com/category/terris-blogs/
http://www.acne.org/spf-sunscreen.html

————————————————————————————————————————–
Thông tin có trong các bài viết là tổng hợp kinh nghiệm và hiểu biết các nhân của mình. Sẽ không tránh khỏi trường hợp bạn thấy câu văn của mình hoặc hướng viết bài của mình na ná giông giống với một trang báo nước ngoài nào đó, đó là điều hiển nhiên vì kiến thức là cần phải học hỏi và bổ sung từ nhiều nguồn. Nhưng mọi nội dung đều do bản thân mình tự viết hoặc biên soạn lại theo cách hiểu và suy nghĩ riêng của mình. Nếu có dùng tư liệu hoặc sao chép từ đâu, các bạn có thể thấy ình để kèm nguồn trong câu nhé. 
Nếu bạn có nhu cầu sử dụng bài viết hoặc trích dẫn mình rất hoan nghênh nhưng hãy dẫn link bài viết gốc từ blog của mình bạn nhé, cảm ơn các bạn đã quan tâm. 
Mình sinh tháng con Dê và cầm tinh con Gà ^^ để các bạn tiện xưng hô nhé 🙂 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.